MẠN ĐÀM VỀ ẢO CÚ TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT
(Trích: Tác giả bài viết: Trần Văn Thái)
Gần đây trang mạng có nhiều bài viết, comment về Ảo cú trong thơ Đường. Để hiểu thêm về vấn đề này, người viết chia sẻ về một vấn đề mà một số bạn đang quan tâm:
* ẢO CÚ LÀ GÌ?
- Ảo là không có thực - Ảo là giả mà giống thực. Biến động, biến hóa...
- Cú là câu
Ở đây Ảo cú là câu đã biến hóa không tuân thủ luật có thể gọi là Thất luật, dẫn tới Thất niêm hay nói cách khác bằng trắc thay đổi không theo Luật BT trong 5 mẫu câu trong Luật cú (Luật cú có 5 mẫu câu BT được hoán vị trong từng thể Luật)
Do Ảo cú không thuận luật, đọc nghe không êm nên sinh ra Cứu tức là Cứu cú điều chỉnh âm luật BT lại để cân chỉnh thanh âm.
Chẳng hạn như bài:
飲湖上初晴後雨其二
水光瀲灩晴方好,
山色空蒙雨亦奇。
欲把西湖比西子,
淡妝濃抹總相宜。
ẨM HỒ THƯỢNG SƠ TÌNH HẬU VŨ kỳ 2
(Tô Thức – Tức Tô Đông Pha )
Thủy quang liễm diễm tình phương hảo,
Sơn sắc không mông vũ diệc kỳ.
Dục bả Tây hồ tỷ Tây Tử,
Đạm trang nùng mạt tổng tương nghi.
Dịch nghĩa:
Trời vừa hừng, mặt hồ sóng gợn lăn tăn
Mưa bay mịt mờ sắc núi đẹp biết bao
Muốn đem Tây hồ so với Tây Thi
Trang điểm đậm hay nhạt đều đẹp cả.
Chữ Tỷ - chữ thứ 5 câu 3 lẽ Thanh Bằng đổi ra Thanh Trắc
Chữ Tây - chữ thứ 6 lại đổi ra Thanh Bằng để cân đối lại thanh âm
Trường hợp này gọi là Đơn ảo và Đơn cứu
(Ảo một chữ, cứu một chữ trong câu)
Cứu chữ ảo trong một liên gọi là Cứu Ảo cú
Song ảo song cứu:
Song ảo song cứu Tức là làm hai cú làm Ảo cứu với nhau
Cách làm:
Dùng xuất cú ảo một chữ thì đối cú ảo một chữ
Như bài:
THU HỨNG KỲ NGŨ
(Đỗ Phủ)
Bồng lai cung khuyết đối Nam san
Thừa lộ kim thành Tiêu Hán gian
Tây vọng Dao Trì GIÁNG VÂN Mẫu
Đống lai tử khí mãn Hàm Quan
Vân di trĩ vĩ khai cung phiến
Nhật liễu long lân thức thánh than
Nhất ngọ Thương giang kinh tuế văn
Kỷ hồi Thanh Tỏa điểm triều ban
------------------
Dịch nghĩa (Lê Nguyễn Lưu)
Cung Bồng Lai đối mặt với núi Chung Nam.
Cột đồng hứng móc sừng sững giữa trời
Phía Tây trông về Dao Trì, Vương Mẫu xuống
Phía Đông kéo đến lăn hơi tía đầy Hàm Quan
Quạt lông trĩ trong cung mở ra như mây vần
Nắng rực vảy rồng trên áo lông cổn, biết mặt vua
Nằm dài ở sông Thương sợ lúc năm tàn
Nhớ những buổi duyệt quan ở Thanh Tỏa.
Liên này:
- Xuất cú ảo câu 3:
Vân đáng lẽ là Trắc đổi ra Bằng
Giáng đáng lẽ Bằng đổi ra Trắc
- Đối cú bất ảo câu 4:
Vì đúng luật Bằng Trắc
Đỗ Phủ có câu:
Ánh giai bích thảo TỰ xuân sắc
Cách diệp hoàng ly KHÔNG hảo âm
Soi thềm cỏ biếc còn tươi thắm
Cách lá oanh vàng hót vẫn hay.
Trần Trọng San trong Thơ Đường xếp trích dẫn này vào Ảo cú. Ông cho rằng Ảo cú làm cho qui tắc bớt chặt chẽ, thơ có âm điệu bất thường BT đổi không theo cách bình thường. Thực ra theo người viết, bài này xét theo Nhất Tam Ngũ và Nhị Tứ Lục câu trên ở dạng bất luận vì đã hoán thanh chữ lẻ. Tuy nhiên có tác giả cho rằng không nên hoán thanh ở chữ thứ 5 thậm chí cả chữ thứ 3 nữa.
Điều chỉnh BT nhiều từ ảo trong trong câu gọi là Cứu cú
Nếu cả bài nhiều câu Ảo cú gọi là Ảo luật
Như bài Trú mộng của Đỗ Phủ:
晝夢
二月饒睡昏昏然,
不獨夜短晝分眠。
桃花氣暖眼自醉,
春渚日落夢相牽。
故鄉門巷荊棘底,
中原君臣豺虎邊。
安得務農息戰鬥,
普天無吏橫索錢。
TRÚ MỘNG
Nhị nguyệt nhiêu thụy hôn hôn nhiên,
Bất độc dạ đoản trú phân miên.
Đào hoa khí noãn nhãn tự tuý,
Xuân chử nhật lạc mộng tương khiên.
Cố hương môn lộng kinh cức để,
Trung nguyên quân thần sài hổ biên.
An đắc vụ nông tức chiến đấu,
Phổ thiên vô lại hoành tác tiễn.
Dịch nghĩa:
Vào tháng Hai ngủ no nê mê mệt,
Chẳng phải vì đêm ngắn mà ngày ngủ bù đâu.
Mà vì hoa đào tạo hơi ấm nên làm say mắt,
Và bến sông trời chiều, mộng đến vậy thôi.
Làng cũ nhà cửa gai góc mọc đầy,
Nơi trung nguyên, vua tôi ở cạnh bày lang sói.
Làm sao lo canh tác và ngưng hẳn giặc giã,
Để khắp chốn quan lại hết sách nhiễu dân.
(Năm 767)
Bài này đúng là Ảo luật nhìn như lạc vào ma trận
Dạng này là thơ biến thể hay còn gọi là Ảo Thể. Người đầu sáng tạo ra thể này là Đỗ Phủ có lẽ ông quan niệm không để từ hại ý hay muốn phá luật một cách chủ ý để lấy ý thơ nên bứt bỏ niêm luật truyền thống.
Đời Vãn Đường có Thảo thể do Hứa Hồn sáng tác và Ảo thể chia thành 2 loại: Loại có qui tắc và Phi qui tắc
Ảo Thể có qui tắc như bài Đăng cố Lạc Dương thành của Hứa Hồn
登洛陽故城
禾黍離離半野蒿,
昔人城此豈知勞。
水聲東去市朝變,
山勢北來宮殿高。
鴉噪暮雲歸古堞,
雁迷寒雨下空壕。
可憐緱嶺登仙子,
猶自吹笙醉碧桃。
Đăng Lạc Dương cố thành
Hòa thử ly ly bán dã hao,
Tích nhân thành thử khởi tri lao?
Thuỷ thanh đông khứ thị triêu biến,
Sơn thế bắc lai cung điện cao.
Nha táo mộ vân quy cổ điệp,
Nhạn mê hàn vũ há không hào.
Khả liên Câu lĩnh đăng tiên tử,
Do tự xuy sinh tuý bích đào.
Dịch nghĩa
Lúa bị cỏ hao xen kẽ quá nửa,
Người xưa ở thành này có biết công khó nhọc (nhổ cỏ) không?
Tiếng nước sông chảy về đông như lẽ biến hoá của thành thị,
Thế núi đi về bắc như các cung điện cao.
Quạ gọi nhau trong mây chiều khi bay về tường thành cổ,
Nhạn mê mưa lạnh đáp xuống hào nước vắng.
Đáng thương cho tiên nhân lên núi Câu,
Còn thổi sênh và say mê đào xanh.
Bài này câu 3:
Đông là T đổi sang bằng Thị Bằng đổi sang trắc.
Lưu ý: Sự hoán đổi chữ 3 và 5 là vào chữ lẻ (tức là Bất luận)
Sự tuân theo luật lệ Do Hứa Hồn cuối đời ông ở Liễu Kiều nên gọi Ảo thể có qui tắc là Đinh Liễu cú pháp (Xem Hình thức Cổ thi Trung Quốc – Phó GS: Hồ Sĩ Hiệp trang 100 NXB ĐN 2013 )
Thơ ảo thể không qui tắc: Không có qui tắc cụ thể như bài
白帝城樓
江度寒山閣,
城高絕塞樓。
翠屏宜晚對,
白谷會深遊。
急急能鳴雁,
輕輕不下鷗。
彝陵春色起,漸擬放扁舟。
BẠCH ĐẾ THÀNH LÂU
Giang độ hàn sơn các,
Thành cao tuyệt tái lâu.
Thuý bình nghi vãn đối,
Bạch cốc hội thâm du.
Cấp cấp năng minh nhạn,
Khinh khinh bất hạ âu.
Di Lăng xuân sắc khởi,
Tiệm nghĩ phóng thiên chu.
Dịch nghĩa:
Gác lạnh nơi núi có sông bao quanh,
Lầu nơi thành cao nhìn về biên ải xa tít.
Bức chắn màu xanh thích hợp lúc chiều đứng ngắm,
Hang trắng kia họp nhau cùng đi sâu vào.
Tiếng nhạn nghe kêu vẻ gấp gáp,
Con cò nhẹ nhàng bay không hạ cánh.
Vùng Di Lăng tràn ngập sắc xuân,
Dần dà tưởng như thả con thuyền câu.
(Năm 766)
Bản dịch của Phạm Doanh
Sông quanh gác núi lạnh,
Lầu ven biên thành cao.
Màn xanh hợp cảnh tối,
Hang trắng cùng bạn lâu.
Gấp gấp vẳng kêu nhạn,
Lâng lâng không sà âu.
Di Lăng sắc xuân nổi,
Cứ tính thả thuyền câu.
Ngoài ra còn có Thơ Ngô Thể:
Cũng biến cách của Luật thi âm luật không rõ ràng Tuy không tuân niêm luật nhưng xuấ cú ảo và đối cú ảo BT đối nhau lại chỉnh sau này ít dùng.
THỂ TRIẾT YÊU:
Câu thứ 3 của cách luật và câu thứ 2 BT không dính (Niêm) với nhau gọi là Triết yêu thể. Ví dụ bài:
VỊ THÀNH KHÚC - Tống Nguyên nhị sứ An Tây
Vị Thành triêu vũ ấp khinh trần,
Khách xá thanh thanh liễu sắc tân.
Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu,
Tây xuất Dương Quan vô cố nhân.
Dịch nghĩa
Tại Vị Thành, mưa ban sáng làm ướt đám bụi mỏng
Quán khách có liễu màu sắc mới mẻ xanh tươi
Xin anh hãy uống cạn chén rượu
Ra khỏi Dương Quan về phía tây e không còn có bạn nữa
Tóm lại:
- Thơ Ảo cú hay Ảo thể Được các bậc Tiền nhân mà đại diện là Đỗ Phủ đã Thoát luật niêm ở một số bài mà không phạm luật do cố tình lấy ý thơ là chính, thay đổi BT ở một số chữ trong câu theo qui tắc hoặc không qui tắc ,để đạt được tiêu chí nào đó về ý thơ. Nếu gọi theo Thi luật áp dụng BT, Niêm 1-8, 2-3, 4-5, 6-7 thì có thể gọi là Thất luật cố tình hay là thể thơ thoát niêm luật ở những câu nào đó trong bài
- Cũng xin lưu ý Không phải bài thơ nào Thoát Luật thi về Niêm, luật trên đều là Ảo thể. Chúng ta hiện nay chơi thơ Đường luật từ gốc Đường thi nhưng Đường Luật hiện nay chơi theo Bảng luật và niêm 1-8, 2-3, 4-5, 6-7 trong khi các thi nhân thời Đường chơi khoảng 16 dải niêm luật khác nhau ở dạng thơ Bát cú dựa trên cơ sở thơ TNBC là được hình thành từ TNTT và nhiều dải niêm của thơ TNTT chồng lên nhau thành bài TNBC ít nhất có 2 cặp đối…
Ví dụ bài:
ĐẰNG VƯƠNG CÁC
– T/g: Vương Bột
Đằng VƯƠNG cao CÁC lâm GIANG chử
(Niêm 1-4, 2-3 luật B)
Bội NGỌC minh LOAN bãi CA vũ
Họa ĐỐNG triêu PHI Nam PHỐ vân
Châu LIÊM mộ QUYỂN Tây SƠN vũ
Nhàn VÂN đàm ẢNH nhật DU du
(Niêm 1- , 2-4 luật Bằng)
Vật HOÁN tinh DI kỷ ĐỘ Thu
Các TRUNG đế TỬ kim HÀ tại ?
Hạm NGOẠI trường GIANG không TỰ lưu.
Dịch thơ
Gác Đằng cao ngất bên sông sâu
Múa hát đà ca vắng bấy lâu
Nam phố mây mai in cột chạm
Tây sơn mưa xế cuốn rèm châu
Mây trôi đầm lặng soi bao thuở
Vật đổi sao dời trải mấy thâu
Trong gác con vua đâu vắng bóng?
Hiên ngoài sông nước vẫn trôi mau.
Đinh Vũ Ngọc Dịch Bài
ĐỘC TIỂU THANH KÝ
(của Nguyễn Du)
(Bài mà nhiều nhà thơ nghĩ là Thất luật, thực ra Nguyễn Du viết theo Niêm luật Đường thi như bài của Vương Bột trên)
Tây HỒ hoa UYỂN tấn THÀNH khư
(Niêm 1-4, 2-3)
Đọc ĐIẾU song tiềnnhất Chỉ THƯ
Chi Phấn hữu THẦN liên TỬ hậu
Văn CHƯƠNG vô MỆNH lụy PHẦN dư
Cổ KIM hận SỰ Thiên NAN vấn
(Niêm 1-3,2-4 Luật Bằng vần Bằng)
Phong VẬN kỳ OAN ngã CỰ cư
Bất TRI tam BÁCH dư NIÊN hậu
Thiên HẠ hà NHÂN khấp TỐ như
Thảo Nguyên dịch:
Hoang vắng Tây Hồ hoa liễu xưa
Viếng nàng bên cửa một phong thư
Chết đi để tiếc , ôi son phấn
Lụy đến tàn tro, hỡi phú thơ
Kim cổ hận kia trời khó hỏi
Tài tình oan kiếp khác gì ta
Ba trăm năm nữa trong thiên hạ
Chẳng biết ai người khóc Tố Như
Trao đổi, mạn đàm với các bạn thơ về Ảo thể hay Ảo cú... để hiều thêm một cách chơi thơ của tiền nhân hy vọng mang đến cho người đọc thêm một góc nhìn về thể thơ Đường cũng như Đường luật. Do viết thời gian có hạn, bài viết chắc còn nhiều thiếu sót mong lượng thứ.
___________________
NGUỒN THAM KHẢO:
1. Hình thức cổ thi Trung Quốc -
2. Thi Pháp Thơ Đường – Quách Tấn NXB trẻ 1998
3. Về Thi pháp Thơ Đường –
GS Nguyễn Khác Phi – GS Trần Đình Sử NXB Đà Nẵng 1998
4. Thơ Đường – Trần Trọng San Tủ sách ĐHTH TP HCM
5. Đường Thi tuyển dich NXB Thuận Hóa
6. Thơ Đường ở Việt Nam Ngô Văn Phú – NXB Hội nhà văn 1996
7. Đường thi Quốc Âm cổ bản NXB Tổng hợp TP HCM
8. Đỗ Phủ nhà thơ dân đen NXB Đà Nẵng
9. Thơ Thiền Đường Tống – Đỗ Tùng Bách NXB VHTT 2011
10. Thơ Đường – Nam Trân tuyển chọn NXB văn học 1987
11. Lịch sử văn học Trung Quốc NXB GD 2002
12. Giải mã Đường Thi – Phạm Nhựt Ngộ - tài liệu photo
13. Nguyễn Khắc Phi tuyển tập NXB GD 2002
14. Mối qua hệ giữa thơ Đường luật với Bác Hồ -
GS Nguyễn Khắc Phi – Tài liệu Photo
15. Đường thi Tam bách Thủ Đường Sĩ Thái tuyển chọn NXB Văn học
16. Thi Viện net
17. Từ điển Hán Việt
Hải Phòng 23/08 /2019
Biên soạn: Trần Văn Thái
CLB Nghiên cứu văn chương Việt Nam TP Hải Phòng & TP HCM.
Bình luận