Lỗi bệnh trong những bài thơ đường luật hay đâu đó vẫn không tránh khỏi hết tuy nhiên khi nắm vững 5 quy tắc vàng khi viết thơ đường luật là: Vần, luật, niêm, đối ngẫu, bố cục. Tất cả được gói gọn trong 56 chữ được ví như 56 viên ngọc được gọt dũa, đánh bóng nhưng để làm được điều đó chúng ta cần phải tìm hiểu qua 20 yếu tố lỗi bệnh trong thơ đường luật.
Nội dung bài viết như sau:
I.LỖI BỆNH TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT LÀ GÌ
II.QUAN ĐIỂM 20 LỖI BỆNH TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT
III.PHÂN TÍCH TỪNG LỖI BỆNH TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT
IV.GIẢI THÍCH CÁC LỖI BỆNH TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT
20 Lỗi bệnh trong thơ đường luật-Lỗi là những điều cấm kỵ của thơ, phạm lỗi sẽ dẫn tới sai hỏng bài thơ hoặc ý tứ ; bệnh là yếu tố làm giảm tính thơ, mắc bệnh dẫn tới kém chất lượng bài thơ.
-Những điều làm mất đi nét đặc trưng căn bản của một bài thơ Đường luật mới có thể gọi là lỗi.
-Nếu nói Lỗi là điều cấm kỵ, thì bệnh là cái làm giảm tính thơ nên lỗi nặng hơn bệnh (tạm gọi là trường phái 1), từ đó phân chia thành 2 trường phái khác nhau:
.jpg)
Thơ Đường luật với một hệ thống quy tắc nghiêm ngặt được thể hiện ở 5 yếu tố sau:
1/ Vần
2/ Luật
3/ Niêm
4/ Đối ngẫu
5/ Bố cục.
Đó cũng chính là những yếu tố cấu thành thơ Đường luật. Thiếu hoặc sai một trong 5 quy tắc trên tức là không phải thơ Đường luật.
(Bốn hiện tượng về thanh âm dẫn tới tám bệnh trong thơ)
Có nghĩa là những lỗi về âm thanh, khi đọc hay ngâm nga bài thơ nghe không hay hoặc chói tai.
Người đầu tiên đề xướng thuyết này là Thẩm Ước (441-513) sống vào thời Nam Bắc Triều (420-589) bên Tàu, áp dụng cho thơ cổ thể (thơ trước Đường luật).
Theo đó mỗi thanh có thể sinh ra 2 bệnh:
1/ Bình đầu - Thượng vỹ
2/ Phong yêu - Hạc tất
3/ Chánh nữu - Bàng nữu
4/ Đại vận - Tiểu vận

Trong bài thơ Đường luật
• Câu 1 niêm với câu 8
• Câu 2 niêm với câu 3
• Câu 4 niêm với câu 5
• Câu 6 niêm với câu 7
Nghĩa là các cặp câu nầy có cùng âm luật bằng trắc. Nếu khác âm luật bằng trắc thì bài thơ gọi là bị thất niêm.
* Ví dụ: Thơ Minh Nhật
GIẤC MƠ
Giữa buổi xuân nồng giấc mộng mơ
Còn nghe tiếng gọi vẫy tay chờ
SÁNG DÕI ÂM THẦM TẠI THUỞ NHỚ
ĐỀM NẰM LẶNG LẼ VÌ HÔM NGƠ
Vội bước rời xa tình đã gở
Thầm ôm hẹn cũ cảnh chưa mờ
Mong rằng tái ngộ đừng tan vỡ
Để phận duyên mình giữ ý thơ.
…
Sáng tác: Minh Nhật
Vì câu 3 không cùng bằng trắc với câu 2 thất niêm. Câu 4 cũng vậy thất niêm theo.
Trong một câu, theo bảng luật, những từ có âm bằng mà làm ra trắc hoặc có âm trắc mà làm ra bằng. Muốn biết “THẤT LUẬT” ta nhìn vào chữ thứ 2,4,6 nếu khác nhau thì “THẤT LUẬT”
* Ví dụ: Thơ Minh Nhật
HOÀI THƯƠNG
Nắng nhẹ chiều buông đã điểm hồng
Mơ đến kỷ niệm chốn triền sông
Thầm trao mộng về nàng thôn nữ
Khẽ gởi tình theo sáo mục đồng
Rộn rã chim chuyền qua lối cửa*
Êm đềm bướm lượn giỡn nhành bông
Trào dâng cảm xúc tình si dại
Chỉ ước hoài thương mãi mặn nồng.
........
Lối cửa*= Tổ chim rồn rột xây rất nhiều tổ và nhiều cửa khác nhau...
Sáng tác: Minh Nhật
-Nhìn chữ thứ 2 câu một “nhẹ” ta biết nó luật trắc vần bằng (hồng)
-“về” chữ 4 đáng trắc mà bằng =>Về =đến.
-“đến” đáng là bằng mà thánh trắc =>đến = về
Đối chiếm địa vị quan trọng trong thơ ĐL. Bỏ đối đi thì không còn được gọi là thơ ĐL nữa, từng chữ trong câu phải đối với nhau, nếu ko chỉnh là thất đối, một bài thơ Đường Luật mà thất đối, thì ko còn là bài thơ Đường Luật.
* Ví dụ: Thơ Minh Nhật
THẦM YÊU
Chiều khơi nỗi nhớ thuở yêu nàng
Vội vã đôi dòng cố chuyển sang
Nghĩa đọng vui buồn tim thổn thức
Tình trao ướt đẫm dạ mơ màng
Ôm sầu khói biếc còn buông thả
Gởi mến âm thầm vẫn trộm mang
Mấy buổi hoài trông dù đã muộn
Vì thương cũng đợi nét khuông vàng.
…
Sáng tác: Minh Nhật
-Khói biếc (dt+tt)/ âm thầm (tt.l) =>thất đối.
=>khói biếc = lặng lẽ
Đang theo vần này mà gieo sang vần khác, như vần trên là TRỜI mà vần dưới là MÂY thì gọi là lạc vận, một bài thơ chính vận đọc lên sẽ hay hơn 1 bài thất vận hoặc thông vận.
* Ví dụ: Thơ Minh Nhật
THU NHỚ
Thu vàng mở lối nụ hồng phai
Những cánh màu xinh phủ tuyệt vời
Dạo thấy trong vườn hoa đã nở
Theo về trước ngõ dạ còn khơi
Tình duyên mãi đợi nhìn tươi thắm
Cảnh vật hoài trông ngỡ sáng ngời
Luyến thuở yêu người nên vẫn mộng
Thương nhành liễu rủ lá chiều bay.
…
Sáng tác: Minh Nhật
-Đang gieo vần Ơi đảo qua vần AY (bay), ƠI mà qua AI (phai)
=> phai = vơi, bay =rơi.
-Bình: Ý là ngang bằng.
-Đầu: Chỉ là đầu câu.
-Bình đầu: Bệnh về đầu câu bị ngang thiếu độ mượt mà.
-Bệnh xuất hiện khi có 2 chữ đầu của 4 câu liền kề nhau, cùng một loại từ (tính từ, danh từ...), cùng một cấu trúc. Nếu bài thơ có nhiều câu liên tiếp bắt đầu bằng 2 chữ hoặc 4 chữ những tiếng cùng một từ loại, cùng một cấu trúc trên 3 câu thì phạm lỗi bình đầu, lưu ý chỉ cần 2 chữ đầu câu trong liên tiếp 4 câu thì đã phạm lỗi này, ngoại trừ trường hợp cố tình làm có mục đích rõ rệt.
* Ví dụ: Minh Nhật
TRÓT YÊU
Tình cảm âm thầm khó đếm cân
Ngàn say thắm thiết điệu trong ngần
Trào dâng lặng lẽ bên người thiện
Lắng đọng êm đềm trước bạn thân
Dõi ngắm hoa thơm cài thiếu nữ
Chờ mong quả ngọt dõi hồng trần
Em đi gót ngọc nồng nàn phủ
Rạo rực hương lòng bởi mĩ nhân.*
…
=>muốn tránh lỗi “bình đầu cần hoán chuyển những chữ đầu tiên khác từ loại.
chú ý: nên tránh dùng ghép hoặc láy trên 3 câu, từ gây bình đầu quan trọng ở 2 từ đầu.
Trong bài thơ ĐL TNBC nếu chữ thứ 5, 6, 7 của nhiều câu liên tiếp (nhiều hơn 3) cùng từ loại và cấu trúc thì bài thơ phạm lỗi thượng vỹ.
* Ví dụ:
LÀM QUEN
Lần đầu dạo bước đến chơi nhà,
Xin được đổi trao bạn với ta
Tương kiến trước là trao nghĩa thắm
Hữu duyên sau sẽ kết tình xa
Vài dòng thô tháo đơm bông đẹp
Mấy vận đơn sơ nở trái ngà
Chào tỷ Quế Hằng lời chúc khỏe
Luôn vui trẻ mãi tháng ngày qua.
….
-Thơ đường luật do 3 chữ sau cùng từ loại mà thành thượng vĩ, nhưng chữ thứ 5 được xem là “thi nhãn” trong thơ, muốn tránh lỗi “thượng vĩ” chỉ cần hoán chuyển 2 chữ thứ 5 là sẽ không còn lỗi thượng vĩ, nhưng muốn bài ổn hơn, thì chữ 6,7 của 2 câu kia khác thì càng tốt.
-Phạm nhãn: Chữ thứ 5 rất quan trọng được xem như là con mắt của bài thơ, chỉ được dùng 3 câu cùng từ loại ở vị trí này, dùng trên 3 sẽ đưa tới lỗi "Phạm nhãn" từ lỗi này sẽ kéo theo lỗi "Thượng vĩ".
Ví dụ: Thơ Minh Nhật
THẦM MƠ
(Tập danh ẩn)
Môi HỒNG quyến rũ bậu vừa trao
Để dạ thầm MƠ buổi ngọt ngào
Ý nguyện TIỀN vào xây ngõ lớn
Duyên cầu PHÁO nổ dựng nhà cao
MUA vàng xuất giá chờ mong đợi
Chọn GIẤY vu quy hẹn đón chào
Rạo rực MAI này em sẽ gởi
Lời thề VẠN TUẾ nghĩ nôn nao.
…
=>chờ mong = bình yên
=>hẹn đón = hạnh phúc
Trong hai cặp thực và luận không được dùng chữ của đầu bài, nếu có chữ nào của đề lọt vào thì bị lỗi phạm đề hay mạ đề.
* Ví dụ: thơ Minh Nhật
TRÓT YÊU
Rạo rực hương lòng bởi mĩ nhân
Cài đan khắc khoải kiếp phong trần
Mi ngài đẹp đẽ tươi tròn nguyệt
Dáng phượng bồng bềnh khẽ ánh thân
Gọt chữ ngời duyên thầm náo nức
Ươm câu thắm nghĩa trót tần ngần
Mặn mà ý vẹn đời chung thủy
Tình cảm âm thầm khó đếm cân
-Trong một bài thất ngôn, chữ thứ ba các câu vần (câu 1,2,4,6,8), và chữ thứ năm các câu không vần (3,5,7) đáng là từ bằng mà đổi ra trắc thì gọi là Khổ độc.
-Lỗi Khổ độc làm cho câu thơ đọc lên gượng gạo ko suông.
* Ví dụ: Thơ Minh Nhật
HOÀI NIỆM
Đêm buồn khắc khoải lệ trào vương
Kỉ niệm ngây ngô thuở học đường
Ý giữ nồng nàn khẽ ước hẹn
Tình tràn lặng lẽ sớm yêu thương
Thẫn thờ nốt nhạc gài bên cửa
Đăm đắm họa thơ giấu cạnh trường
Dáng bậu mơ màng tim vẽ bóng
Thầm thì nỗi nhớ dạ soi gương.
…
-Khẽ: Chữ 5 câu không vần bằng mà thánh trắc =>khẽ = xưa
-Họa: Chữ thứ 3 câu vần đáng bằng mà thành trắc =>họa =bài
-Thơ ĐL chỉ dùng đơn vận, nếu cùng một chữ vần được dùng lặp lại ở hai câu khác nhau thì gọi là trùng vận, bài thơ sẽ hỏng.
-Tuy nhiên trùng âm mà khác nghĩa thì chấp nhận nhưng đặt gần nhau sẽ không hay.
* Ví dụ: Thơ Minh Nhật
Hoài Niệm
Thầm thì nỗi nhớ dạ soi gương
Gió thổi miên man rộn cảnh trường
Thắm thiết trang đài vui mãi đợi
Êm đềm lãng tử khẽ hoài thương
Bờ môi nũng nịu hờn con sóng
Ngọn tóc lung lay tủi đêm trường
Hạnh phúc nâng niu cùng giữ nghĩa
Tần ngần cõi mộng kết tơ vương.
Một từ được dùng 2 hoặc 3 lần trong bài thơ thì gọi là trùng từ.
* Ví dụ: Thơ Minh Nhật
TRĂNG MƠ
Kẻ sĩ si tình Mạc Tử ơi
Buồn chi bán cả ánh trăng vời
Hồng nhan xếp gọn trao hồn gởi
Lãng tử say thầm đếm mộng rơi
Ngõ giữa hàng cau còn thắm mới
Đường bên áo lụa vẫn xinh ngời
Hằng Nga hảo ý trao tình gợi
Trót lỡ mua dành để lại chơi.
-Từ ý đã dùng rồi mà còn dùng nữa thì gọi là trùng ý.
-Nếu rơi vào cặp thực hay cặp luận thì gọi là hiệp chưởng hay còn gọi là bổ nứa.
* Ví dụ: Thơ Minh Nhật
NÀNG THƠ
Trót lỡ yêu thầm bởi ý thơ
Lòng xao xuyến bậu dưới trăng mờ
Niềm tin quyện trải trông đồi mận
Cuộc sống đan cài ngóng suối mơ
Nếu đã hằn sâu người hẹn ước
Thì luôn khắc đậm kẻ mong chờ
Bên nàng khiến dạ hoàng hôn phủ
Vẽ đẹp khuynh thành khiến ngẫn ngơ.
….
-Lòng/dạ: trùng ý
-Trông/ngóng: Hiệp chưởng
* Nếu hai cặp thực và luận trùng ý nhau thì gọi là sàng túc (hai chiếc giường chồng lên nhau) hay là điệp sàng xá ốc (giường nhiều lớp, nhà gác chồng).
Thường gặp ở giữa bài 4 CÂU ngắt nhịp như nhau.
*Ví dụ: Thơ Minh Nhật
NHỚ
Nhớ bậu từng hôm ước được ghì…
Môi nồng thắm quyện để nhiều khi…
Khung trời cách biệt/ luôn chờ bởi…
Ngọn gió phân ly/ chẳng gặp vì….
Hóng bạn tương phùng/ chia sẻ gỡ…
Mong người hội ngộ/ giãi bày ghi…
Cùng em khoảnh khắc dâng trào đã…
Cháy trọn tình say thỏa ấy thì…
….
Minh Nhật, Sài Gòn: 16/10/22
-Trong câu có 4 bằng 3 trắc hoặc ngược lại nếu dùng 3 thanh dấu cùng loại sẽ thành bệnh điệp thanh.
-Chú ý nếu 3 chữ đứng sát là lỗi nặng không cho phép, còn nếu 3 chữ đặt xa cách 4 chữ thì linh động cho phép,
-Không cho phép dùng 4 chữ không dấu trong câu, dù có ghép, láy cũng phạm, nếu có ghép, láy thì chỉ được dùng trong 3 chữ.
* Ví dụ: Thơ Minh Nhật
NỖI NHỚ
Dạ cứ bâng khuâng mỗi buổi chiều
Tìm về sóng vỗ bến bờ liêu
Vòng tay rộn rã ân tròn ngọt
Ánh mắt long lanh nghĩa vẹn nhiều
Bởi chọn nồng nàn tìm nỗi nhớ
Nên chờ lặng lẽ đón tình yêu
Âm thầm kỉ niệm luôn lưu giữ
Vẽ đẹp thon thon dáng mỹ miều.
….
-Nồng nàn tìm: 3 thanh dấu liền kề lỗi nặng
-Tìm về bờ/ âm luôn lưu: 3 thanh dấu nếu cách xa 4 chữ tạm cho phép hoặc láy ghép tính 1
=>bờ =cô
=>nồng nàn tìm = âm thầm trao
Tính trong 1 liên, nếu trên 2 chữ có cùng âm hoặc dùng thông âm là phạm lỗi điệp âm, nếu đặt xa 4 chữ thì cho phép.
* Ví dụ: Thơ Minh Nhật
NÀNG THƠ
Trót lỡ mơ thầm bởi ý thơ
Lòng xao xuyến bậu dưới trăng mờ
Niềm tin quyện trải qua đồi mận
Cuộc sống đan cài thả suối mơ
Nếu đã hằn sâu người hẹn ước
Thì luôn khắc đậm kẻ mong chờ
Bên nàng những lúc hoàng hôn phủ
Vẽ đẹp khuynh thành khiến ngẫn ngơ.
….
Nếu chữ thứ 4 trong 1 câu có cùng vần hoặc thông vần với chữ cuối câu đó thì phạm lỗi đại vận
* Ví dụ: Thơ Minh Nhật
HẠ ĐẾN
Tàn xuân hạ đến rủ tơ màng
Kỉ niệm theo chàng buổi nắng chang
Trước cửa rừng mơ tìm quả chín
Thềm bên suối mận đón hoa vàng
Vừa trao nụ thắm tình duyên dệt
Đã nhận môi hồng hạnh phúc mang
Khoảnh khắc êm đềm mong giữ mãi
Lòng anh rộn rã nguyện yêu nàng.
Nếu chữ thứ 2 trong 1 câu có cùng vần hoặc thông vần với chữ thứ 6 hoặc thứ 7 của câu đó thì phạm lỗi tiểu vận.
* Ví dụ: Thơ Minh Nhật
NHỚ
Nỗi nhớ dâng trào dạ vấn vương
Lời thương ánh mắt quyện đêm trường
Êm đềm đợi /kẻ trao lời ngọt
Người thả câu nồng / lặng lẽ thương
Hạnh phúc thề mong tràn vạn ngõ
Tình duyên hẹn ước phủ trăm đường
Cài đan kỉ niệm hoài xao xuyến
Nguyện giữ đôi mình trộn tóc sương.
…
Nếu chữ cuối câu trùng thanh dấu với chữ thứ 2 trong cùng câu thì gọi là lỗi phong yêu.
* Ví dụ: Thơ Minh Nhật
MỘNG
Đêm tàn sóng vỗ bởi lòng ta
Cảnh mộng nàng trao ủ đậm đà
Chảy cuộn niềm yêu sầu kẻ vắng
Dâng trào nỗi nhớ tủi người xa
Hai lều chiếu ... trúc mai vàng nở
Liễu mận thơm vương ...một ngõ nhà*
Khẽ cuộn môi hôn nồng thắm quyện
Từng ngày rạo rực ngỡ hôm qua.
….
Nếu chữ cuối câu trùng thanh dấu với chữ thứ 4 trong cùng câu thì gọi là lỗi hạc tất.
* Ví dụ: Thơ Minh Nhật
BÁN ĐẤT
Đường thông thoáng đãng lại ôm tiền
Nở giậu dài ngang tốt ruộng biên
Thiếp giỏi giao lưu thầm bán được
Chàng vui ngưỡng mộ khoái mua liền
Ngày sau hậu / thế nhân tình hỏi
Khát vọng duyên cài / buổi trước tiên
Đất thổ trời ban hoài vượng cát
Mời anh đóng cọc quả mê ghiền.
…
Trong một câu có nhiều hơn hai chữ có cùng phụ âm đầu (hoặc bắt đầu bằng nguyên âm, không có phụ âm đầu) thì phạm lỗi chánh nữu.
* Ví dụ: Thơ Minh Nhật
YÊU VÀ THƯƠNG
(Tập danh sắc thái)
Mỗi buổi đêm về dạ trót THƯƠNG
Thầm YÊU gởi trọn khắc miên trường
Say tình ngỏ ý vui hò HẸN
MẾN cảnh trao lời khẽ vấn vương
Kẻ ĐỢI mơ màng theo vạn nẻo
Người TRÔNG gặp gỡ ghé trăm đường
Bao ngày khấp khởi không kìm ƯỚC
Giữ nụ hôn chiều NHỚ trải hương.
….
-Tính trong 1 liên, nếu trên 2 chữ có cùng phụ âm đầu (hoặc bắt đầu bằng nguyên âm) nằm gần nhau thì phạm lỗi bàng nữu.
- Nhưng cũng như lỗi điệp âm, nếu đặt xa 4 chữ thì cho phép.
* Ví dụ: Thơ Minh Nhật
HƯƠNG QUÊ
(Tập danh sắc thái)
Mùi hương lúa trĩu ĐỎ quanh đồng
Nỗi nhớ dâng trào thả TÍM sông
Nũng nịu mưa giăng nhòe mắt BIẾC
Tung tăng nắng giỡn ửng môi HỒNG*
Trăng VÀNG bảng lảng luôn chờ hẹn
Sóng BẠC rì rào mãi ngóng trông
Vỗ cánh cò bay màu TRẮNG nõn
Vườn XANH trải lá vẫn duyên nồng.
…
=>Nũng nịu nắng ghép láy tính 1 và cách xa 4 chữ cho phép
=>Vỗ, vườn, vẫn đặt gần không cho phép
Trong 12 lỗi 8 bệnh không có (lỗi) BẤT LUẬN vì bất luận không phải là lỗi bệnh mà là LUẬT BẤT LUẬN
Trong thơ Đường Luật có câu:
“Nhất tam ngũ bất luận
Nhị tứ lục phân minh”
Có nghĩa là khi dùng LUẬT BẤT LUẬN cho phép chữ ở vị trí số 1,3,5 đáng bằng làm ra trắc và đáng trắc làm ra bằng
Còn chữ ở vị trí 2,4,6 bắt buộc phải tuân theo bằng trắc của câu thơ
......
11 BƯỚC DÒ LỖI BỆNH TRONG THƠ ĐL
1. Đọc các câu xem đúng bảng luật chưa?
2. Dò chữ thứ 8 câu: 1,2,4,6,8 => đan xen dấu
3. Dò chữ thứ 8 câu: 3,5,7 => đan xen dấu?
4. Dò chữ 5 các câu => phạm nhãn ko?
5. Dò chữ 1&2 các câu => xem bình đầu ko?
6. Dò cặp đối: 3&4, và 5&6 => dò đối
7. Dò chữ: 2/6&7=> xem lỗi bệnh?
8. Dò chữ: 4/6&7=> xem lỗi bệnh?
9. Dò các liên: Liên 1,2,3,4 => xem lỗi bệnh bàn nữu, chánh, nữu, điệp thanh, điệp âm
10. Lấy câu 1 đọc thầm từ câu 2_8, rồi lấy câu 2 đọc thầm từ câu 3_8.....tương tự đọc đến hết => dò lỗi điệp từ
11. Dò lỗi chính tả
CHÚC DÒ LỖI BỆNH HIỆU QUẢ
Bình luận
Kiều Phong -
Cám ơn tác giả đã cho bài viết rõ ràng nhất
08:27:31 28/11/2022
Minh Nhật Land QUẢN TRỊ VIÊN
Thanks